Yêu cầu kỹ thuật của WPA
19.07.2009 11:04
Yêu cầu kỹ thuật về bàn và thiết bị thi đấu của Hiệp hội Pool Thế giới (World Pool-Billiard Association – WPA). (Có hiệu lực từ tháng 11/2001)
1. Mục đích.
Mục đích của yêu cầu này là đặt ra hệ thống chuẩn các yếu tố kỹ
thuật sử dụng trong tất cả các giải vô địch thế giới do WPA tổ chức,
các sự kiện thi đấu thế giới do WPA tổ chức và các sự kiện được WPA
chứng nhận. Không cần áp dụng các yêu cầu này cho bàn sản xuất mang
tính chất thương mại, sử dụng trong nhà. Cá biệt, WPA có thể chứng nhận
các giải đấu trên bàn không theo các yêu cầu này.
2. Chiều cao mặt bàn.
Nên trong khoảng từ 29 ¼ inch (74.295 cm) đến 31 inch (78.74 cm).
3. Thiết kế.
Không nên có những cạnh sắc hay sử dụng vật liệu có thể rách quần
áo. Kết cấu nên vừa đủ sao cho bàn giữ được tính ổn định và bằng phẳng
dưới mọi điều kiện thi đấu.
4. Đá.
Độ dày của đá ít nhất phải là 1 inch (2.54 cm), và bề mặt thi đấu
(đá) phải có thể, hoặc dưới trọng lượng bản thân hoặc dưới tổ hợp trọng
lượng của nó, tác dụng lên khung bàn, giữ cho được độ phẳng tổng thể
trong phạm vi +0.020 inch (0.508 mm) theo chiều dọc và +0.010 inch
(0.254 mm) theo chiều ngang. Hơn thế nữa, bề mặt này nên có độ võng phụ
thêm không vượt quá 0.030 inch (0.762 mm) khi chịu một lực tĩnh tập
trung 200 pound (90.7 kg) đặt tại tâm. Các mối nối giữa các tấm đá lệch
nhau không quá 0.005 inch (0.127 mm) theo mặt phẳng sau khi cân đá và
chêm. Các bàn thi đấu phải có một bộ đá gồm ba tấm có kích thước bằng
nhau với các thanh gỗ dán dưới các tấm đá dày ít nhất ¾ inch (1.905
cm). Các tấm đá phải được bắt chặt vào khung bằng đinh vít hay bulông
thuận (ren phải – ND).
5. Bề mặt thi đấu.
Bề mặt thi đấu (vùng thi đấu) phải là hình chữ nhật, đối xứng sau khi lắp đặt các rọ như sau:
9 feet – 100 (+ 1/8) x 50 (+ 1/8) inch (không tính băng cao su) (bàn 9’ – ND)
[2.54 m (+ 3.175 mm) x 1.27 m (+3.175 mm)] (tính theo hệ mét)
8 feet – 92 (+ 1/8) x 46 (+ 1/8) inch (không tính băng cao su) (bàn 8’ – ND)
[2.3368 m (+ 3.175 mm) x 1.1684 m (+ 3.175 mm)] (tính theo hệ mét)
6. Chiều cao của băng cao su.
Băng cao su nên có dạng tam giác với chiều rộng của băng đã vào nỉ
từ 1 7/8 inch (4.76 cm) đến 2 inch (5.40 cm) tính từ mép ngoài của đỉnh
băng. Chiều cao băng (khoảng cách từ đường thẳng đi qua đỉnh băng tới
mặt bàn) nên là 63 ½ % (+ 1%) hoặc từ 62 ½ % đến 64 ½ % của đường kính
viên bi.
7. Lỗ và kích thước lỗ.
Miếng dán đầu ở hai bên lỗ phải có cùng bề dày. Các miếng dán đầu
phải bằng cao su đã kiểm tra chặt chẽ được dán bằng keo dính tốt vào
băng cao su và thành băng, và được dán một cách hợp lý vào thành gỗ để
chống trượt. Miếng dán đầu nên bằng cao su cứng hơn cao su làm băng một
chút.
Các lỗ của bàn pool được tính bằng khoảng cách giữa hai đỉnh băng
cao su đối diện nhau tại nơi đổi hướng để dẫn vào lỗ (từ từ điểm mép
đến điểm mép). Đó gọi là miệng lỗ.
Miệng lỗ góc: từ 4.5 inch (11.43 cm) đến 4.625 inch (11.75 cm).
Miệng lỗ giữa: từ 5 inch (12.7 cm) đến 5.125 inch (13.0175 cm).
*Miệng lỗ của lỗ giữa rộng hơn miệng lỗ của lỗ góc ½ inch (1.27 cm).
Giá của lỗ: giá của lỗ tính từ trung điểm của đoạn thẳng nối hai
điểm mép miệng lỗ tới mặt cắt dọc của lỗ cắt trên đá. Giá bao gồm cả
góc xiên (phần đá bo tròn – ND).
Giá của lỗ góc: từ 1 inch (2.54 cm) đến 2 ½ inch (5.715 cm).
Giá của lỗ giữa: từ 0 đến 0.375 inch (0.9525 cm).
8. Rọ chứa bóng.
Rọ và ngăn chứa bóng nên được bọc nhựa, cao su hoặc da. Chất liệu
của rọ và ngăn chứa bóng không nên tạo vết bẩn khó lau cho bóng và cơ.
Phần trên của rọ phải được tạo hình sao cho bất kỳ lúc nào một viên bi
đập vào phần rọ thấp hơn vành rọ tại đỉnh thành băng, viên bi rơi hướng
thẳng xuống dưới.
9. Rãnh chạy và rọ móc bóng.
Cả hai loại rọ móc bóng và rãnh chạy đều có thể được sử dụng,
nhưng độ ồn phải nhỏ nhất có thể. Rọ móc bóng phải có chứa được ít nhất
6 quả bóng. Loại rãnh chạy phải được lắp đặt chính xác sao cho bóng rơi
vào lỗ không nảy trở lại bàn hay rơi ra khỏi bàn.
10. Nỉ.
Nỉ phải không định hướng, là loại vải dùng cho billiard dệt tự do
không bị xù lông, cấu tạo bởi không nhỏ hơn 85% lông cừu và không lớn
hơn 15% nylon, tốt hơn là loại nỉ 100% lông cừu. Không cho phép dùng
loại nỉ kém hơn
11. Vào nỉ (nguyên tắc).
Trước khi phủ nỉ lên mặt đá, nên dán vải bạt (hay vải bàn) lên các
mép lỗ trên tấm đá và các tấm gỗ dán dưới tấm đá. Vải lót phải được kéo
căng bằng các lực thích hợp và được cố định bằng máy vào các tấm gỗ dán
dưới đá với lượng chốt vừa đủ (ghim hay đinh mũ) với khoảng cách lớn
nhất khoảng 1 inch tính theo tâm chốt và xuyên vào gỗ ít nhất 3/8 inch
(0.9525 cm). Nguyên tắc của lực kéo căng như sau:
a. Chiều dài của nỉ nên được kéo bằng tay càng chặt càng tốt rồi sau đó chùng lại ½ inch (1.27 cm) trước khi cố định, và
b. Chiều rộng của nỉ nên được kéo bằng tay càng chặt càng tốt rồi sau đó chùng lại ¼ inch (0.635 cm) trước khi cố định.
Khi vào vải băng, phải kéo nỉ bằng lực đều và thích hợp suốt chiều
dài băng trong khi đóng nẹp cũng như sau đó. Trong khi kéo nỉ suốt
chiều dọc băng, phải kéo ngang nỉ đến sinh mômen khi vết lõm ở đỉnh
băng cao su bắt đầu quay thì cố định nỉ vào phần gỗ phía sau với lượng
ghim vừa đủ, khoảng cách lớn nhất khoảng là ¾ inch (1.905 cm) tính theo
tâm ghim và xuyên vào gỗ ít nhất 3/8 inch (0.9525 cm). Tại góc mở ở
miệng lỗ, băng phải được phủ nỉ với số lần nỉ nhỏ nhất trên miếng dán
đầu. Khi làm việc này, phải hết sức cẩn thận sao cho ẩn được các nếp
gấp, nếu có, không được khiến nó trở thành nguyên nhân gây ra việc bóng
nhảy khỏi bàn trong khi chơi. Không cho phép có nếp gấp ở vùng nỉ phủ
miếng dán đầu của lỗ góc.
12. Vệ sinh bàn và vải băng (nên chuẩn bị).
WPA khuyến nghị chỉ dùng phấn màu xanh lá cây hay xanh da trời.
Nên dùng các thiết bị vệ sinh bàn và băng như bàn chải mềm (bằng lông
đuôi ngựa), dụng cụ vệ sinh nỉ sử dụng chính loại nỉ cho bàn, hay một
máy hút bụi. Không nên dùng các bàn chải có lông cứng, dễ rụng.
13. Đèn.
Mọi điểm trên mặt bàn và băng phải được chiếu sáng ít nhất 520
lux. Nên cấu tạo tấm phản quang sao cho không nhận thấy tâm bàn sáng
hơn băng hay góc bàn. Nếu vị trí đèn ở phía trên bàn có thể di chuyển
về một bên (trọng tài), chiều cao tối thiểu của đèn nên lớn hơn 40 inch
(1.016 m) so với mặt bàn. Nếu vị trí đèn ở phía trên bàn không thể di
chuyển, đèn nên cao hơn mặt bàn 65 inch (1.65 m). Cường độ sáng của bất
cứ đèn chiếu trực tiếp nào lên cơ thủ tại bàn không được gây loá mắt.
Ánh sáng bắt đầu gây loá mắt ở 5000 lux nếu chiếu trực tiếp. Các chỗ
khác của nhà thi đấu (chỗ ngồi khán giả chẳng hạn) nên chiếu sáng tối
thiểu 50 lux.
14. Bi và tam giác xếp bi.
Tất cả các viên bi phải được làm từ nhựa resin phenolic nóng chảy,
có đường kính 2 ¼ (+ 0.005) inch (5.715 cm (+ 0.127 mm)) và nặng từ 5 ½
đến 6 oz (156 đến 170 g). Bi không nên đánh bóng và cũng không cần bôi
xi. Bi nên được lau sạch bụi bẩn bằng khăn khô hay vải, và cũng có thể
làm sạch bằng xà phòng và nước. Bi có vài vết bẩn khó làm sạch, giải
quyết bằng cách bôi xi hay chà xát với xi, phải được làm sạch và chà
xát bằng vải sạch nhúng cồn loãng trước khi chơi.
Một bộ bi cho thể loại pool gồm 1 quả bi cái màu trắng và 15 quả
bóng màu có đánh số gọi là bi mục tiêu. Các bi mục tiêu được đánh số
rõ, dễ nhìn từ 1 đến 15. Mỗi bi mục tiêu có số của nó được đánh 2 lần,
đối diện nhau, một trong hai số lộn ngược, số màu đen trên nền trắng.
Các bi mục tiêu được đánh số từ 1 đến 8 là các bi màu: 1 = vàng, 2
= xanh da trời, 3 = đỏ, 4 = tía, 5 = da cam, 6 = xanh lá cây, 7 = bã
trầu và 8 = đen. Các bi mục tiêu được đánh số từ 9 đến 15 là các bi
khoang: 9 = vàng, 10 = xanh da trời, 11 = đỏ, 12 = tía, 13 = da cam, 14
= xanh lá cây, 15 = bã trầu. Hai số 6 và 9 được gạch chân. (Bộ bi thể
loại pool nhãn hiệu Aramith mới nhất có bi số 4 và 12 màu hồng, bi số 7
và 15 màu nâu cà phê sữa – ND).
Nên dùng tam giác xếp bi bằng gỗ để đảm bảo các bi tiếp xúc nhau.
Cả hai mặt đều có thể tiếp xúc với nỉ khi di chuyển tam giác xếp bi,
nên cả hai mặt đều phải rất trơn nhẵn để không gây rách nỉ bên dưới.
Không nên dùng tam giác xếp bi bằng nhựa vì chúng dẻo và có xu hướng
biến dạng, làm tốn nhiều thời gian xếp bi, nếu không thì không thể thực
hiện được.
15. Cơ.
Trong suốt các giải đấu của WPA, cơ sử dụng phải tuân theo các tiêu chuẩn sau:
Chiều dài cây cơ: tối thiểu là 40 in (1.016m), không giới hạn tối đa.
Trọng lượng cây cơ: không giới hạn tối thiểu, tối đa là 25 oz (708.75 g).
Bề rộng đầu cơ: không giới hạn tối thiểu, tối đa là 14 mm.
Đầu cơ không được làm bằng chất liệu có thể cào xước hay gây hư
hại viên bi. Đầu cơ của bất cứ cây cơ nào cũng phải gồm nhiều lớp da đã
qua xử lý đặc biệt hoặc vật liệu sợi hay vật liệu mềm dẻo khác. Đầu cơ
kéo dài chiều dài tự nhiên của cây cơ và tiếp xúc với bi cái khi thực
hiện cú chọc.
Vòng sắt bịt đầu của cây cơ, nếu bằng kim loại, thì không được dài hơn 1 inch (2.54 cm).
16. Tay giả.
Tay giả, cũng gọi là lết, cầu hay gậy nối, là một phụ kiện của bàn
billiard, nó bao gồm một cây gậy với một cái khung lắp ở đầu gậy, dùng
để phụ trợ cho tay cầm gậy, thay thế tay cầu trong các cú chọc bi mà
tầm với khó. Phần tay cầm của lết cũng tương tự như cây cơ. Phần đầu
lết có dạng chữ V hay có rãnh thường có nhiều chiều cao khác nhau để
tay cầm cơ có thể đặt vào. Phần mép của đầu lết nên làm trơn nhẵn để
không làm hư hại phần tay cầm của cơ hay xé rách nỉ trong khi sử dụng.
17. Bàn được công nhận bởi WPA.
Chỉ có các bàn được công nhận bởi WPA là được sử dụng trong các sự kiện do WPA tổ chức hay chứng nhận.
|